Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

Những tình huống mẹ cần bổ sung thêm sữa ngoài cho con


Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, điều này chắc chắn rằng bà mẹ nào cũng biết nhưng không phải tất cả bà mẹ nào cũng có thể nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ. Có những tình huống bắt buộc bạn phải bổ sung thêm sữa bột ngoài mới đảm bảo sự phát triển của trẻ. Hãy cùng Chăm sóc bé yêu tìm hiểu nhé!

1. Mẹ rất ít sữa

Tình trạng ít sữa cho con bú ở các bà mẹ sau khi sinh mặc dù không quá phổ biến, nhưng nó lại là mối lo, thậm chí trở thành nỗi ám ảnh của rất nhiều mẹ bỉm sữa. Mẹ ít sữa có những dấu hiệu như:

Bầu vú thay đổi rất ít hoặc không thay đổi sau 3 ngày sinh con: Ngay từ lần đầu tiên con ngậm ti mẹ, cơ thể mẹ đã nhận biết được và tiết sữa ngày một nhiều hơn. Nếu sau 3 ngày mà sữa vẫn không về nhiều, bầu ngực không lớn hơn, sờ thấy nhão thì rất có thể là mẹ ít sữa cho con bú.
Hình dạng núm vú tiết sữa và không tiết sữa

Mẹ cố nặn cũng không ra sữa: Nhiều mẹ dùng cách cố nặn hoặc hút sữa để kích thích sữa về nhưng lượng sữa tiết ra vẫn không cải thiện được, nặn không ra sữa cũng bởi vì mẹ ít sữa. Bé bú dưới 5 phút thì hết sữa, bụng không no: Thông thường trẻ sơ sinh vì kỹ năng bú mẹ còn kém nên trẻ thường bú rất chậm, nhưng trong trường hợp trẻ bú dưới 5 phút đã ngừng, bụng không no căng thì mẹ nên nghĩ đến nguyên nhân là do mình bị thiếu sữa hoặc quá ít sữa, bé bú không thấy sữa nên mới ngừng.

Bé đi tiểu dưới 6 lần/ngày: Thành phần chủ yếu của sữa mẹ là nước, khi bé bú đủ sẽ đi tiểu rất nhiều lần trong ngày. Nếu thấy bé của mẹ đi tiểu quá ít thì mẹ hãy để ý một chút đến lượng sữa của mình.

Trường ợp mẹ ít sữa hoặc không có sữa nên bổ sung sữa bột ngoài cho con

Nếu bạn không đủ sữa cho em bé? Người thân và bạn bè sẽ đưa ra rất nhiều lời khuyên để giúp bạn có thêm nhiều sữa hơn nhưng chưa chắc những lời khuyên đó thực sự hữu ích. Lúc này việc trước tiên mà các mẹ bỉm sữa cần làm đó là bổ sung thêm sữa bột ngoài cho con để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển của bé.

2. Mẹ mắc các bệnh lây qua đường sữa

Nhiễm HIV hoặc HTLV-1: Cho con bú không được khuyến cáo với những mẹ bị nhiễm HIV hoặc HTLV-1. Người mẹ cũng nên chú ý khi chăm sóc cho trẻ, để tránh làm con bị nhiễm bệnh từ những khả năng khác.
Con đường lây nhiễm HIV

Truyền nhiễm (lây nhiễm) lao: Nếu bạn đã trải qua điều trị ít nhất hai tuần và bạn không còn bị lây nhiễm thì việc cho con bú mới trở nên an toàn. Tuy nhiên, mẹ cũng chú ý tới sức khỏe của con. Nên hỏi bác sĩ rõ về thời gian mà bạn được phép cho con bú.

Herpes simplex: Virus herpes simplex là DNA virus có thể gây nên nhiễm khuẩn da cấp tính và biểu hiện mụn nước thành nhóm trên nền da đỏ. Bú mẹ là an toàn nếu bạn không có tổn thương trên ngực. Nếu có những tổn thương trên ngực bạn nên vệ sinh vùng ngực thật sạch sẽ, cẩn thận trong việc thao tác tay. Biện pháp hút sữa là cách tốt nhất để mang lại an toàn và đủ tiêu chuẩn sữa cho con.

Thủy đậu: Nếu nhiễm trùng bắt đầu trong vòng năm ngày trước khi sinh hoặc hai ngày sau đó, bạn nên tránh tiếp xúc trực tiếp với con mình. Sau khi thủy đậu hết việc cho con bú là an toàn.

Cytomegalovirus (CMV): Đây là virus thường gặp và hầu hết mọi người đều bị nhiễm. Một khi đã xâm nhập cơ thể con người, CMV sẽ tồn tại trong cơ thể. Do có nhiều chủng CMV nên người ta có thể bị nhiễm CMV nhiều lần. Chúng làm suy giảm miễn dịch, ảnh hưởng đến hầu hết mỗi cơ quan trong cơ thể, dẫn đến sốt không rõ nguyên nhân, viêm phổi, viêm gan, viêm não, viêm tủy, viêm đại tràng, viêm mống mắt, kết mạc và bệnh lý thận.

Việc cho con bú chỉ ở mức độ an toàn là 90%. Các mẹ cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi cho con bú. Vì virus gây ra bệnh này có thể đi vào sữa mẹ sữa của mẹ, nhưng nó là rất hiếm. Mẹ nên làm xét nghiệm của mình trước khi cho con bú. An toàn nhất chính là mẹ không cho con bú bằng sữa mẹ mà thay bằng sữa công thức hoặc xin sữa từ người mẹ khác

3. Sinh đa thai

Nếu mẹ mang đa thai, khi bé được sinh ra, khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của bé thường rất kém. Thực tế, ở hầu hết các ca đa thai, trẻ thường khó tiếp nhận sữa mà phải thông qua hình thức cung cấp dinh dưỡng qua tĩnh mạch. Trẻ sinh đa thai thường có sức khỏe yếu hơn những đứa trẻ sinh một thông thường, hơn nữa nguồn sữa mẹ cũng không đủ để cung cấp cho trẻ.

Mẹ sinh đa thai nên bổ sung sữa ngoài cho trẻ để đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng 

Lúc này hãy nghĩ đến việc bổ sung thêm sữa công thức cho con. Các mẹ có thể bổ sung sữa cho bé bằng cách cho 1 em bé bú, trong khi bé còn lại dùng sữa công thức. Và trong lần bú tiếp theo, hãy đảo ngược lại, cho bé đã được bú mẹ dùng sữa công thức, và cho bé bú sữa công thức lần trước được bú mẹ trong lần này.

4 Mẹ bị tách khỏi bé

Những bà mẹ phải đi làm thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ. Nếu như không có thời gian để vắt sữa cho trẻ hoặc đơn giản chỉ là bạn không muốn ngồi vắt sữa ở nơi làm việc thì bạn có thể thuê vú nuôi để cho trẻ bú khi bạn đi làm, hoặc bổ sung sữa công thức cho trẻ, mỗi khi bạn không thể cho trẻ bú. Theo thời gian, một số bà mẹ sẽ cố gắng đảo ngược quá trình này, có nghĩa là, họ sẽ cố gắng cho trẻ bú nhiều hơn khi 2 mẹ con có thời gian ở bên nhau. Với cách này, lượng sữa công thức em bé phải dùng sẽ giảm đi đáng kể.
Nuôi con giữ chồng luôn mong gia đình bạn khỏe mạnh và hạnh phúc!

Xem thêm:

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2018

Mẹ cho bé ăn dặm như thế nào theo từng độ tuổi?

Việc ăn dặm cho trẻ chính là cách bổ sung các chất dinh dưỡng đảm bảo cho sự phát triển cả về thể lực và trí lực của trẻ. Trong từng giai đoạn khác nhau thì nhu cầu ăn dặm cũng trẻ cũng khác nhau, trẻ càng lớn thì thực đơn ăn dặm cũng phong phú và nhiều chất dinh dưỡng hơn. hãy cùng Nuôi con giữ chồng tìm hiểu cách cho bé ăn dặm theo từng giai đoạn các mom nhé!

1. Trẻ từ 0-6 tháng tuổi

Trong 6 tháng đầu đời của trẻ, sữa mẹ đóng vai trò cung cấp chất dinh dưỡng quan trọng hơn bao giờ hết. Có thể nói, trong thời điểm này sự phát triển của trẻ phụ thuộc hoàn toàn vào sữa mẹ. Tuy nhiên bên cạnh nguồn sữa mẹ thì bố mẹ cũng nên bổ sung thêm sữa công thức cho con với hàm lượng ít. Việc bổ sung thêm sữa công thức cho trẻ dưới 6 tháng tuổi cũng giúp bổ sung thêm chất dịnh dưỡng cần thiết, đặc biệt đối với những người ít sữa cho con bú.

Sữa mẹ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ

Trong giai đoạn này, nếu mẹ nhận thấy con tăng cân chậm hay có những dấu hiệu sớm cho việc sẵn sàng ăn dặm thì mẹ nên tập cho con ăn. Tuy nhiên, mẹ nên tránh những thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ như: lúa mì, các loại hạt, đậu phộng, gan, trứng, cá, sữa bò, pho mai…

2. Trẻ từ 6-12 tháng tuổi

6 tháng đầu, bé có thể hấp thu chất dinh dưỡng và phát triển hoàn toàn bằng sữa mẹ. Nhưng trong 6 tháng tiếp theo, bé bắt đầu ăn dặm và đến khi 1 tuổi bé đã ăn được hầu hết các thức ăn như người lớn. Sự chuyển tiếp này là một vấn đề lớn vì cả mẹ và bé cần làm quen dần với khái niệm “bữa ăn gia đình”. Để giải quyết vấn đề này, mẹ cần cho trẻ ăn dặm từng bước để trẻ có thời gian làm quen với thức ăn mới, và bạn cần nhớ rằng sữa vẫn là nguồn dinh dưỡng quan trọng nhất cho trẻ. Mẹ nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ và dùng bổ sung thêm sữa công thức phù hợp với độ tuổi của trẻ. 

Từ 6-12 tháng tuổi là thời kỳ trẻ cần ăn dặm để đảm bảo chất dinh dưỡng

Trẻ từ 5 - 6 tháng:
  • Bắt đầu ăn : Nên cho trẻ ăn thử bột loãng (tỷ lệ 1:10) với lượng bột khoảng ½ thìa cà phê.
  • Trong tuần thứ nhất : Cho trẻ ăn với lượng 1 thìa cà phê khẩu phần ăn.
  • Các tuần tiếp theo tiếp tục cho trẻ ăn bột loãng với lượng như vậy, khi bé đã quen thì bắt đầu tăng từ 1 bữa bột/ngày lên hai bữa bột/ngày, lên ba bữa bột/ngày và sau đó nấu bột đặc dần cho trẻ ăn.
  • Trong thời gian đầu tập ăn, chủ yếu là cho bé làm quen với thìa và tập nuốt, nguồn dinh dưỡng vẫn là sữa.
Trẻ từ 7 - 12 tháng :
Top thực phẩm tốt cho bé ăn dặm

Sau một thời gian tập ăn dặm, thời kỳ này trẻ đã quen với việc ăn thức ăn thô, và có thể ăn được tất cả các loại thức ăn nhưng cần được nấu, nghiền, xay nhỏ. Trong một ngày thực đơn của bé có thể dùng nhiều loại thức ăn chế biến nấu cùng bột hoặc cháo xay nhỏ chế biến thức ăn vào theo từng thực đơn.
Đến tháng thứ 8, mặc dù bé chưa có đủ răng nhưng bắt đầu có phản xạ nhai, vì vậy thức ăn nấu cho trẻ cần được nấu nhừ và còn lại chút độ thô để kích thích trẻ nhai nuốt.
Tháng thứ 9, đây là giai đoạn mẹ và bé thở phào nhẹ nhõm vì đã trải qua một thời gian tập ăn dặm của bé thật công phu. Lúc này trẻ có thể ăn được nhiều món ăn do mẹ nấu mà bé thích. Sau thời kỳ này đến 1 tuổi, trẻ có thể bắt đầu tập ăn cơm nhão, cơm nát và có thể ăn cơm cùng bố mẹ.
Nuôi con giữ chồng mong gia đình bạn luôn khỏe mạnh và hạnh phúc!

Xem thêm:


Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Những loại vitamin giúp tăng sức đề kháng cho trẻ

Ngoài bổ sung các dưỡng chất cần thiết, vitamin còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức đề kháng cho trẻ, giúp trẻ chống lại bệnh tật. Trong bài viết này, Nuôi con giữ chồng xin được điểm tên một số loại vitamin được xem là thần dược tăng sức đề kháng cho trẻ!

1. Vitamin A

Trong các loại vitamin thì vitamin A đóng vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ sự toàn vẹn của các biểu mô, giác mạc mắt, biểu mô da, niêm mạc đường hô hấp, ruột non và các tuyến bài tiết nên giảm nguy cơ viêm nhiễm đường hô hấp, tiêu chảy, kém hấp thu.

Vitamin A không chỉ kích thích phát triển thị giác mà còn giúp trẻ tăng cường sức đề kháng

Ngoài việc hỗ trợ cho thị giác thì vitamin A còn giúp trẻ phát triển tốt hơn, tránh tình trạng suy dinh dưỡng, thấp còi. Vitamin A còn giúp cơ thể tăng cường khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng với bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng nặng như: sởi, tiêu chảy và viêm đường hô hấp cấp.
Khi cơ thể thiếu vitamin A, khả năng chống lại virus của các tế bào cũng giảm đi, chức năng bảo vệ niêm mạc đường hô hấp cũng theo đó yếu đi, một khi bị virus, vi khuẩn tấn công thì rất dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp
Để cung cấp vitamin A đầy đủ cho bé thì mẹ nên bổ sung các thực phẩm như: cà rốt, súp lơ xanh, cải xoăn, quả mơ hoặc khoai lang.. vào thực đơn hàng ngày của con.

2. Vitamin C

Vitamin C đóng vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động khác nhau của cơ thể. Vitamin C hỗ trợ tăng cường sức đề kháng toàn diện cho cơ thể, vitamin C giúp đào thải các chất có hại ra ngoài tế bào bạch huyết, phục hồi khả năng các tế bào bị thương tổn. Lúc bị cảm hoặc bị sốt, nồng độ vitamin C trong tế bào bạch huyết sẽ giảm thấp.

Nguồn vitamin C tự nhiên

Con người không thể tự tổng hợp vitamin C được nên thức ăn chính là nguồn duy nhất cung cấp vitamin C cho cơ thể. Tuy nhiên, cơ thể con người cũng không có khả năng dự trữ vitamin C nên nó rất dễ bị hao hụt đi. Thiếu vitamin C có thể khiến bé chậm vận động, dễ bị ốm, bị các bệnh vặt. Trong nhiều trường hợp, thậm chí thiếu vitamin C có thể gây ra chứng còi xương ở trẻ.

3. Vitamin D

Ngoài khả năng giúp xương chắc khỏe nhờ điều phối chuyển hóa canxi, vitamin D còn có vai trò kiểm soát và điều phối gần 1.000 gen, có mặt ở khắp các mô và tế bào trong cơ thể. Cung cấp vitamin D (biotin) mỗi ngày sẽ thúc đẩy quá trình chuyển hoá năng lượng, giúp cơ thể hấp thu tốt các dưỡng chất, đặc biệt là canxi và phốt pho rất tốt cho xương. Quan trọng nhất là nó giúp ngăn chặn quá trình phát triển và phân chia của tế bào ung thư.

Các nguồn vitamin D dồi dào

Cơ thể người không tự tổng hợp được vitamin D. Vì vậy, các mẹ có thể bổ sung loại vitamin D cho trẻ thông qua việc tắm nắng hoặc ăn các loại thực phẩm như trứng, sữa, ngũ cốc… 

4. Vitamin E

Vitamin E kích thích sự sản sinh các tế bào diệt vi khuẩn tự nhiên. Bổ sung vitamin E hàng ngày chính là cách bảo vệ tế bào, hỗ trợ các hoạt động của hồng cầu, giúp da mịn màng, đồng thời góp phần phòng chống các bệnh tim mạch… Vitamin E có trong hạnh nhân, hạt hướng dương, quả óc chó…

Xem thêm:

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018

Điều gì sẽ xảy ra nếu mẹ bầu tăng cân quá nhều?

Việc tăng cân trong thời kỳ mang thai là điều hết sức bình thường, nhưng nó sẽ bất bình thường khi mẹ bầu tăng cân quá mức cho phép. Tăng cân quá nhiều gây hại cho cả thai nhi và mẹ bầu. Các bạn biết chưa? Hãy cùng Nuôi con giữ chồng tìm hiểu nhé!

1. Nguy hiểm đối với thai nhi

Thai nhi quá to

Khi mẹ tăng cân quá nhanh đồng nghĩa với việc thai nhi to. Thai nhi to dễ bị phì các cơ quan trong cơ thể, điển hình nhất là những bất thường ở buồng tim, dẫn đến xác suất tử vong cao khi ở trong bụng mẹ.

Thai nhi quá to cũng là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ các mẹ chọn đẻ mổ không ngừng tăng. Khi thai nhi quá to, quá trình chuyển dạ ở mẹ gặp nhiều khó khăn do đầu thai nhi to, không lọt xuống thấp, gây rối loạn cơn gò. Mẹ bầu cũng dễ bị vỡ tử cung. Ngay cả khi đầu thai nhi đã lọt thấp xuống, quá trình sinh nở vẫn diễn ra chậm, đầu dễ bị chèn ép vào khung chậu, xương vai mắc kẹt ở khoang chậu mẹ. Nếu xử lý không kịp thời, có thể con sẽ bị ngạt, dễ gây tử vong.

Em bé phải đối mặt với nguy cơ béo phì cao hơn khi trưởng thành

Các nhà khoa học Mỹ vừa công bố kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng cân quá mức trong thời kỳ mang thai của phụ nữ có thể gây tác hại đối với sức khỏe của trẻ sơ sinh.

Em bé sinh ra có trọng lượng nặng dễ mắc phải các vấn đề liên quan đến béo phì

Các tác giả cho biết, những em bé có trọng lượng nặng hơn khi sinh ra thì càng có khả năng phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến chứng béo phì khi trưởng thành. Những bé sinh nặng cân, sau khi sinh thường dễ bị hạ đường huyết, hạ canxi huyết, kéo theo một loạt những nguy hiểm như hạ thân nhiệt, suy hô hấp, suy hệ tuần hoàn. Nếu nguy hiểm hơn bé có thể bị xuất huyết não dẫn đến bại não. Các bé sơ sinh thừa cần đều có nguy cơ bị bệnh tiểu đường nhiều hơn các bé khác. Chưa kể ở thế sinh khó, các bé cũng bị chấn thương như gãy tay, gãy xương đòn.

2. Nguy hiểm đối với mẹ bầu

Mẹ tăng cân quá nhiều sẽ khiến thai nhi thường có xu hướng to hơn, vì vậy chị em sẽ bị mệt mỏi, cổ tử cung giãn rộng và chèn vào cơ hoành gây khó thở, chèn vào tĩnh mạch vùng chậu, gây phù chân. Ngoài ra, mẹ to – con to cũng sẽ bị đe dọa bởi căn bệnh tiểu đường.

Tăng cân quá mức khi mang thai nguy hiểm đến sức khỏe mẹ bầu

Không chỉ có thế, việc sinh con to cũng khiến mẹ mất sức nhiều hơn, tổn thương phần mềm như rách âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, mất nhiều máu. Với các mẹ bầu quá cân, mẹ khó lấy lại được vóc dáng sau sinh. Chưa kể, mẹ cũng có thể bị các bệnh như tim mạch, tiểu đường.

3. Tăng cân như thế nào là hợp lý

Trọng lượng cần tăng khi mang thai phụ thuộc vào cân nặng và chiều cao của bạn trước khi mang thai. Mối quan hệ giữa chiều cao và cân nặng được thể hiện qua chỉ số BMI. Dưới đây là mức tăng cân chuẩn theo khuyến cáo của Viện Y học Hoa Kì (IOM):
  • Đối với người có cân nặng bình thường (chỉ số BMI là 18,5-24,9): nếu cân nặng trước khi mang thai của bạn bình thường, bạn nên tăng từ 11 đến 16 kg trong cả thai kì. Tăng 0,5-2kg trong ba tháng đầu và khoảng 0,5kg trong mỗi tuần còn lại của thai kỳ sẽ tối ưu hóa sự phát triển của thai nhi.
  • Thiếu cân (BMI dưới 18,5): nếu bạn bị nhẹ cân so với chiều cao của mình, bạn cần tăng 13 đến 18kg trong cả thai kì.
  • Thừa cân (BMI từ 25 đến 29.9): nếu bị thừa cân so với chiều cao, bạn nên tăng từ 7 đến 11kg trong cả thai kì.
  • Béo phì (chỉ số BMI là 30 hoặc cao hơn): bạn nên tăng từ 5 đến 9kg trong cả thai kì.
  • Mang thai đôi: nếu mang thai đôi bạn nên tăng thêm 17-24kg trong thai kì nếu trước đó bạn có cân nặng bình thường, 14-23kg nếu bạn bị thừa cân, và 11-19kg nếu bạn bị béo phì.
Hãy kiểm soát cân nặng hợp lý khi mang thai để tốt cho sức khỏe cả mẹ và bé nhé các Mom!
Xem thêm: 

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2018

Những thực phẩm người mới có thai tuyệt đối tránh

3 tháng đầu là thời kỳ đặc biệt quan trọng, là bước đệm bảo vệ an toàn cho thai nhi và sự phát triển cho thai nhi về sau. Chính vì vậy trong chế độ ăn uống 3 tháng đầu, các bà bầu phải thực sự chú ý. Trong bài viết này Nuôi con giữ chồng xin được điểm mặt những thực phẩm nguy hiểm cho thai nhi mà mẹ bầu tuyệt đối tránh trong 3 tháng đầu

1. Đặc điểm thai kỳ trong 3 tháng đầu

Mang thai 3 tháng đầu là giai đoạn cơ thể mẹ sẽ có những biến đổi sinh lý để thích nghi, đồng thời là thời gian quan trọng cho sự phát triển não bộ và hệ thần kinh của bé. Trong thời gian này, bà bầu chỉ cần duy trì mức năng lượng bình thường, căn bản chỉ cần tăng trong khoảng từ 0,9 kg tới 2,3 kg. Đối với các mẹ đã béo phì thì không nên để tăng cân thêm. Hãy chia nhỏ khẩu phần ăn trong ngày thành nhiều bữa (5 - 6 bữa) trong đó cần đảm bảo đủ 3 bữa chính để giảm hiện tượng nôn và buồn nôn do ốm nghén.
Ốm nghén xuất hiện ở 3 tháng đầu thai kỳ

Sau 3 tháng đầu thai kỳ, bà bầu sẽ hết buồn nôn, ăn ngon miệng, thèm ăn vặt. Lúc đó là giai đoạn mẹ dễ dàng tăng tốc để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cao hơn.

2.  Những thực phẩm nguy hiểm cho người mới mang thai

Dứa gai gây co thắt dạ con

Dứa có chứa bromelain. Viên uống có chứa bromelain không được khuyến nghị dùng khi đang mang thai bởi nó có thể phá vỡ protein trong cơ thể và dẫn đến chảy máu bất thường.

Ăn dứa không tốt cho phụ nữ mới mang thai

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết trong quả dứa có chứa chất bromelain có tác dụng làm mềm tử cung, kích thích co bóp tử cung, nhất là những trái dứa xanh thì tỉ lệ chất bromelain là rất cao, khi bà bầu mang thai 3 tháng đầu ăn quá nhiều dứa xanh dễ khiến chảy máu bất thường, có nguy cơ sảy thai cao. Tuy nhiên khi các bạn đun nấu dứa lên thì chất bromelain sẽ bị mất đi nên bạn có thể ăn dứa này. Tốt nhất mẹ bầu nên kiêng loại quả này trong thai kì đầu thai kỳ.
Các bác sĩ cho rằng, dứa có tác dụng làm chuyển dạ, mềm tử cung, bởi vậy, mẹ bầu nên ăn dứa vào tháng cuối thai kỳ hoặc đã quá ngày sinh để có thể chuyển dạ nhanh hơn.

Rau ngót

Rau ngót là một thực phẩm giàu dưỡng chất, rất bổ ích cho mọi người, đặc biệt là đối với phụ nữ. Tuy nhiên, đối với phụ nữ mang thai thì các món ăn từ rau ngót lại được cảnh báo nguy hiểm nếu sử dụng nhiều.
Rau ngót chứa hàm lượng papaverin cao gây co thắt cơ trơn tử cung

Cho đến nay những nghiên cứu khoa học chưa có nghiên cứu nào chỉ ra tác hại của rau ngót với thai kỳ. Tuy nhiên, trong rau ngót tươi có chứa hàm lượng papaverin cao gây hiện tượng co thắt cơ trơn tử cung, khiến chị em rất dễ sảy thai. Theo kinh nghiệm dân gian, phụ nữ sau đẻ, sau sảy, sau nạo chữa sót rau nhau chính bằng rau ngót. Chính vì vậy thai phụ, đặc biệt là với những thai phụ có tiền sử sảy thai liên tiếp, đẻ non, thụ tinh trong ống nghiệm nên hạn chế ăn rau ngót đặc biệt là uống nước rau ngót sống, liều cao.

Táo mèo

Táo mèo kích thích tử cung co bóp và thu nhỏ lại dẫn đến sảy thai, sinh non

Táo mèo là loại trái cây tốt cho sức khỏe, được dùng trong đông y làm thuốc chữa bệnh trị tăng huyết áp, kích thích tiêu hóa … tuy nhiên nó lại là thứ nguy hiểm cho các mẹ bầu khi mang thai, nhất là những tháng đầu của thời kì thai nghén. Có nhiều nghiên cứu cho thấy táo mèo có tác dụng kích thích tử cung khiến tử cung co bóp và thu nhỏ lại, điều này dễ khiến cho các mẹ bầu bị sảy thai và sinh non.

Đu đủ xanh

Trong đu đủ xanh chứa rất nhiều chất gây nguy hiểm cho thai nhi

Có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trong 1 trái đu đủ xanh có chứa rất nhiều chất gây nguy hiểm cho thai nhi như papain, prostaglandin và oxytocin, trong đó chất papain có thể khiến tế bào phôi thai bị phá hủy, còn prostaglandin và oxytocin có tác dụng kích thích co bóp tử cung sớm đẩy thai nhi ra ngoài, điều này sẽ gây sảy thai nếu như thai nhi chưa đủ tháng.

Quả nhãn

Nhãn tốt cho phụ nữ sau sinh nhưng không tốt cho phụ nữ mang thai
Nhãn có tính nóng, không tốt cho phụ nữ mang thai

Như chúng ta đều biết, nhãn là loại quả có tính nóng mà hụ nữ mang thai thường gặp phải các triệu chứng nóng trong người như: táo bón, họng rát và đắng, da khô, tiểu tiện đỏ xèn. Vì vậy nên kiêng những loại thức ăn có tính nóng làm tình trạng nặng thêm. Ăn nhãn trong 3 tháng đầu và 3 tháng cuối thai kỳ sẽ khiến cơ thể nóng hơn, dễ bị động thai xuất huyết âm đạo tăng nguy cơ xảy thai và sinh non.

Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2018

Tư thế nằm nguy hiểm cho cả bà bầu vè em bé

Bên cạnh chế độ ăn uống, tập luyện m nghỉ ngơi thì tư thế ngủ cũng là một trong những vấn đề cũng cần để ý trong thai kỳ. Có những thói quen nằm ngủ tưởng chừng vô hại cho mẹ và thai nhi nhưng thực ra lại đang âm thầm hủy hoại cả mẹ và thai nhi. Vì vậy, Nuôi con giữ chồng xin dẫn ra một số tư thế nằm nguy hiểm cho thai nhi mà các bà bầu cần tránh

1. Nằm nhiều "vượt cạn" khó

Các mẹ bầu thường nghĩ rằng khi mang thai thì nên nằm nghỉ nhiều thì mới tốt cho sức khỏe của cả mẹ và bé tránh tình trạng xảy thai. Nhưng thực ra, nếu nằm quá nhiều trên giường cũng không tốt cho mẹ bầu đâu nhé, các mẹ nên kết kết hợp với chế độ tập luyện hợp lí để có thể dễ sinh hơn.

Thường xuyên vận động nhẹ nhàng để thuận lợi cho việc sinh nở

Mẹ bầu nằm nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe cũng như tâm lý. Khi không vận động các khớp xương, tim mạch và phổi một cách bình thường, trạng thái cơ thể của mẹ bầu thêm mệt mỏi. Khi nằm quá nhiều, giấc ngủ của bà bầu cũng khó đến hơn, họ cảm thấy khó chịu và rất nhàm chán.
Bên cạnh đó, nằm nhiều sẽ tạo nên tâm lý mẹ bầu muốn phụ thuộc vào người khác, và cũng không muốn phục vụ các nhu cầu cần thiết cho bản thân.
Trong trường hợp bất đắc dĩ, có nhiều bà bầu trong giai đoạn đầu bị động thai, sẽ được bác sỹ yêu cầu nằm bất động trên giường để đảm bảo an toàn cao nhất cho thai nhi. Vị trí nằm không thay đổi sẽ đặt áp lực của tử cung lên các tĩnh mạch, đẩy lượng máu ở phần dưới cơ thể chảy ngược về tim. tuy nhiên, trong trường hợp này, bà bầu cũng có đi lại nhẹ nhàng, hay làm một số việc miễn sao không quá nặng để cơ thể khỏe khoắn hơn.

2. Nằm ngửa làm tăng nguy cơ hỏng thai

Khi mẹ bầu nằm ngửa khi ngủ sẽ làm giảm lượng oxy cung cấp cho thai nhi

Theo nghiên cứu của các chuyên gia khoa sản, có đến 80 – 90% mẹ bầu có tử cung ngã sang phải. Vì vậy nếu mẹ nằm nghiêng quá nhiều sang phải hoặc nằm ngửa sẽ khiến việc vận chuyển oxy và chất dinh dưỡng đến thai nhi khó khăn hơn, nhất là vào giai đoạn cuối thai kỳ khi bụng bầu đã quá lớn.

Nằm ngửa không tốt cho thai nhi

Làm tê liệt tĩnh mạch chi dưới

Tĩnh mạch trong thời kỳ mang thai thường có trạng thái giãn nở, do đó phụ nữ mang thai rất dễ bị căng hoặc tê liệt tĩnh mạch chi dưới và vùng ngoại âm. Do đó, thai phụ cần phải chú ý nhiều trong vấn đề nằm như thế nào để hợp lý. Nếu như thai phụ nằm ngửa thì sẽ làm tăng cường áp lực của tử cung lên ống dẫn niệu ở vị trí cửa xương chậu và khi đó nguy cơ độ phù nề tăng lên rõ rệt.

Làm giảm lưu lượng máu

Khi thai phụ nằm ngửa sẽ làm tăng áp lực từ tử cung lên tĩnh mạch khoang dưới, gây cản trở sự lưu thông máu xuống nửa thân dưới và hậu quả là giảm lượng máu đổ về tim, thường giảm một nửa so với tư thế nằm nghiêng. Và việc bị giảm lưu lượng máu xuống tử cung và cuống rốn làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai nhi.

Khiến cơ thể mẹ bầu phù nề

Trong thời kì mang thai, cơ thể thai phụ tích nước nên phần chân càng dễ xuất hiện tình trạng phù nề, nếu nghiêm trọng sẽ dẫn tới cao huyết áp dẫn tới hiện tượng phù nề toàn thân. Do đó, nếu đang có hiện tượng phù nề mẹ bầu tuyệt đối không nên nằm ngửa, vì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và thai nhi.

3. Nằm gục trên bàn

Đây là trường hợp thường gặp nhất ở các mẹ bầu công sở. Khi làm việc mệt mỏi và tranh thủ trong giờ nghỉ trưa nên nhiều chị em có thói quen nằm gục xuống bàn để chợp mắt một chút. Tuy nhiên ít người biết rằng, tư thế ngủ này sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của cả bà bầu và thai nhi trong bụng.
Mẹ bầu nằm gục trên bàn nguy hiểm đến thai nhi

Khi mẹ nằm gục mặt xuống bàn khiến vùng bụng bị chèn ép, đồng thời lưng cong khiến hoạt động của phổi bị ảnh hưởng. Từ đó, làm cho cơ thể thiếu oxy và cơ chế thải carbon dioxide cũng bị cản trở gây áp lực cho em bé trong bụng, dẫn đến tình trạng trẻ bị thiếu oxy.
Nuôi con giữ chồng luôn mong gia đình bạn có một sức khỏe tốt và hạnh phúc!

Xem thêm:

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

Những món ăn giúp mẹ bầu sinh thường dễ dàng


Rất nhiều chị em phụ nữ mong muốn có thể sinh thường, bởi sinh thường tốt cho sức khỏe cả mẹ và bé sau này. Tuy nhiên những cơn đau đẻ kéo dài, dữ dội luôn là nỗi lo lắng, ám ảnh của hầu hết các mẹ bầu. Trong bài viết này, Nuôi con giữ chồng xin được chia sẻ một số món ăn giúp cho bà bầu có thể sinh thường dễ dàng hơn. Các bạn cùng tham khảo nhé!

1. Các món ăn từ rau khoai lang

Rau khoai lang vốn đã được rất nhiều mẹ bầu lựa chọn để ăn trong suốt thời gian mang thai bởi loại thực phẩm này có vị ngọt, tính mát, rất tốt cho phụ nữ mang thai. Ngoài ra, rau khoai lang còn rất tốt đối với người bị tiểu đường. Các bà bầu thường rất lo ngại với vấn đề tiểu đường, bởi bầu bí là thời kì mà họ dễ mắc tiểu đường nhất. Nhiều người chưa biết rằng, rau lang rất tốt trong việc phòng ngừa tiểu đường. Trong ngọn rau lang đỏ có chất gần giống insulin, tác dụng làm giảm đường huyết, do đó trong bữa ăn của người bị tiểu đường nên có món rau này.

Rau lang là loại rau phổ biến, dễ tìm lại rất linh hoạt trong cách chế biến

Rau khoai lang là loại rau vừa dễ tìm, lại rất linh động trong cách chế biến, bạn có thể nấu canh, luộc, xào tùy theo sở thích. Trong thời kỳ bầu bí, bạn nên thường xuyên ăn rau lang, khoảng 3-4 bữa/1 tuần để thanh nhiệt cơ thể, hạn chế táo bón và nhuận trường hiệu quả. Hãy ăn rau lang nhiều hơn khi đến gần thời gian dự sinh, và tốt nhất là ăn rau lang luộc hoặc nấu canh để việc sinh để theo phương pháp thường được diễn ra dễ dàng, nhanh chóng và đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và bé nhé.

Món rau lang xào được nhiều người yêu thích

Tuy nhiên, có một số điều cần chú ý khi ăn rau lang đó là: Không nên ăn rau khoai lang lúc quá đói vì khi đó đường huyết đã thấp, lại làm hạ thêm gây mệt mỏi và cũng không nên ăn thường xuyên rau lang vì chứa nhiều calci có thể gây sỏi thận, tốt nhất nên ăn kèm đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.

2. Dứa và nước ép dứa

Dứa là loại quả miền nhiệt đới có chứa nhiều chất vitamin và khoáng chất. Theo y học, dứa có nhiều công dụng đối với sức khỏe của con người như tăng sức đề kháng, tăng cường sức khỏe và tăng quá trình phát triển xương... Ngoài ra, dứa còn có tác dụng làm đẹp. Tuy nhiên, khi thưởng thức dứa cần có những chú ý nhất định để tránh nguy cơ ngộ độc, đặc biệt là phụ nữ trong thời kỳ mang bầu.

Dứa chứa nhiều vitamin và khoáng chất rất tốt cho phụ nữ mang thai thời kì cuối

Nếu như thời kỳ đầu mang thai, chị em phụ nữ tuyệt đối không ăn dứa thì đến cuối thai kỳ( Tuần thứ 38) thì dứa lại là thực phẩm có lợi cho việc chuyển dạ và sinh nở. Vì vậy từ tuần 38 trở đi, khi em bé sẵn sàng ra ngoài thì mẹ bầu có thể ăn dứa nhiều hơn một chút để việc sinh đẻ được dễ dàng. Lúc này, enzyme bromelain trong dứa sẽ giúp làm mềm cổ tử cung của thai phụ.

3. Chè vừng đen nấu với bột sắn dây

Vừng đen là loại thực phẩm có chứa rất nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe, đặc biệt trong thực phẩm này có chứa một loại tinh dầu có khả năng hỗ trợ quá trình sinh thường của mẹ bầu rất hiệu quả.
Trong hạt vừng đen có chứa nhiều dưỡng chất như protein (chất đạm), lipit (chất béo), gluxit (chất đường bột), Kcalo nhiệt lượng, canxi, photpho, sắt; và các vitamin như: B1, Vitamin B2, niacin. 

Ăn chè vừng đen giúp cho bà bầu sinh nở dễ dàng hơn

Ngoài ra còn có folic acid, saccharose, pentose, hắc sắc tố... Đặc biệt, hàm lượng vitamin E trong hạt vừng rất lớn, đứng hàng đầu trong các loại thực phẩm, trong 100g vừng đen có tới 5,14mg vitamin E. Những vi chất này rất cần thiết để hỗ trợ quá trình sinh đẻ của mẹ bầu được diễn ra dễ dàng, thuận lợi hơn. Vì thế, bắt đầu từ giai đoạn cuối của thai kỳ, các mẹ bầu nên nấu chè vừng đen với bột sắn dây, và đường phèn để ăn mỗi ngày 1 lần sẽ có tác dụng rất tốt trong việc giúp mẹ bầu sinh thường nhanh.
Không những thế, chè mè đen nấu kết hợp với bột sắn dây còn có tác dụng thanh nhiệt cơ thể, chữa nhiều bệnh, tăng cường dinh dưỡng, bổ máu, làm đẹp da, mượt tóc, trị chứng thiếu máu, chóng mặt, giúp tiêu hóa tốt nữa đấy nhé.
Tuy nhiên, bà bầu cần chú ý, khi mang thai trước khi sử dụng mè đen, bạn phải xem xét mình có bị dị ứng với thực phẩm này hay không. Trong thời gian đầu thai kỳ, bạn nên ăn ít mè đen. Việc sử dụng mè đen chỉ khuyến khích chủ yếu ở tam cá nguyệt thứ 3 nhằm hỗ trợ việc sinh thường dễ dàng hơn.
Nuôi con giữ chồng luôn mong muốn gia đình bạn có một sức khỏe tốt và hạnh phúc!

Xem thêm: